Võ cổ truyền: Vũ Gia Thân Pháp

09/07/2011 14:39 0 trả lời        Được viết bởi :

Với kỹ thuật thân pháp tiếp thu được, kết hợp cùng với toàn bộ sở học vốn có, cụ Vũ Bá Quý đã đúc rút nên kỹ thuật căn bản của môn Vũ Gia Thân Pháp, thể hiện bằng một lối đánh riêng cực kỳ sáng tạo. Trải qua những năm tháng vất vả trong hai cuộc kháng chiến, do bận công tác nên Cụ không có điều kiện mở mang môn phái mà chỉ nhận dạy một số học trò tâm huyết

 Võ cổ truyền: Vũ Gia Thân Pháp

Cố võ sư Vũ Bá Quý (1912-1995)

Vũ gia thân pháp căn bản được võ sư Vũ Bá Quý kết hợp giữa thân, thủ pháp Vịnh xuân quyền, bộ pháp Hầu quyền với các bài thế chiến đấu thực tiễn xuất phát từ nền võ thuật cổ truyền hình thành qua các cuộc chiến trong lịch sử giữ nước của dân tộc Việt Nam. Qua đó gạn lọc để nhằm đưa ra những giải pháp phát triển tối ưu trong việc tiếp cận, tập luyện, trau dồi và bảo tồn giá trị môn phái đối với các thế hệ môn sinh Vũ gia thân pháp. Sự hình thành sắc thái, tính đặc thù trong nghệ thuật võ học và mang ý nghĩa chiến đấu cao, cùng đồng thời thể hiện sự đa dạng và phổ cập. Là một trong những thành công của người sáng lập. Võ sư Vũ Bá Quý không hẹp hòi hay câu nệ khi đưa võ của ông vượt qua sự trị vì cá nhân và đến với cộng đồng.

Với cơ sở bộ tay của Vịnh Xuân trong cận chiến, áp dụng Ma bộ bộ với thân pháp xoay người của Nga Mi, và kèm theo một số cước pháp phù hợp với lối đánh áp sát đối phương. Võ sư Vũ Bá Quý dạy đệ tử về quyền, về roi, về kiếm, song ông vẫn khuyên "Học văn cho võ đỡ phu, học võ cho văn đỡ nhược".

Lược sử

Cụ Vũ Bá Quý (1912-1995) sinh tại vùng quê thuộc huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên được coi là tổ sư của môn phái Vũ Gia Thân Pháp. Từ nhỏ, cụ Vũ Bá Quý đã là người ham mê võ thuật. Sớm ra Hà Nội từ những năm đầu thế kỷ XX, Cụ đã theo học và được chân truyền những tuyệt kỹ võ dân tộc từ cụ Lãnh Binh Giang, một trong những bộ tướng giỏi của Tổng đốc Hoàng Diệu triều nhà Nguyễn. Sau đó Cụ đã thụ giáo qua rất nhiều môn phái, kể cả những môn võ của đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc. Tuy nhiên, bước ngoắt lớn nhất trong con đường võ học của cụ là vào những thập kỷ đầu thế kỷ XX, tại biên giới phía Bắc, Cụ đã có duyên gặp Tôn sư Tế Công, một trong những cao thủ của môn phái Vịnh xuân Trung Hoa, khi Tôn sư lánh nạn sang Việt Nam và trở thành người học trò Việt Nam đầu tiên của Tôn sư.

Dưới sự chỉ bảo của Tôn sư, những kiến thức, kỹ năng võ thuật được tiếp thu từ trước của Cụ đã phát huy hiệu quả nhanh chóng. Trên cơ sở những nguyên tắc luyện võ đã được giác ngộ, Cụ tiếp tục nghiên cứu và tiếp thu tinh hoa của một số võ phái Nhật Bản và quyền Anh, rồi tự tu tập, cải tiến thành một lối đánh riêng đầy uy lực. Với những kỹ thuật nền tảng của môn phái Vũ Gia Thân Pháp sau này, Cụ đã thượng đài thành công và nhiều năm liền giữ đai vô địch võ đài Quy Nhơn (vô địch Đông Dương). Danh vô địch vẫn không làm mai một tâm huyết tìm tòi, học hỏi cải tiến nâng cao võ thuật của Cụ. Năm 1938, trong một lần vào Sài Gòn giao lưu, Cụ đã gặp một võ sư mà giới giang hồ gọi là Năm Sài Gòn. Khi giao đấu, vị võ sư này không thể so đòn được với Cụ, nhưng ngược lại, Cụ cũng không thể truy đuổi để ra đòn quyết định được, vì thân pháp của võ sư này rất nhanh nhẹn và tinh tế. Sau trận đấu, mặc dù là người chiến thắng (thắng điểm), nhưng bước qua hào quang của danh vô địch, của người chiến thắng, Cụ vẫn một mình đội lễ đến nhà người thua trận để xin chỉ giáo.

Từ đó, với kỹ thuật thân pháp tiếp thu được, kết hợp cùng với toàn bộ sở học vốn có, cụ Vũ Bá Quý đã đúc rút nên kỹ thuật căn bản của môn Vũ Gia Thân Pháp, thể hiện bằng một lối đánh riêng cực kỳ sáng tạo. Trải qua những năm tháng vất vả trong hai cuộc kháng chiến, do bận công tác nên Cụ không có điều kiện mở mang môn phái mà chỉ nhận dạy một số học trò tâm huyết (võ sư Đạt, võ sư Nguyên, võ sư Mỹ, võ sư Diệu...).

Vào năm 1983, theo đề nghị của học trò lớn của Cụ là võ sư Nguyễn Tiến Mỹ, Cụ đã đồng ý chính thức thành lập môn phái do mình sáng tạo với cái tên Vũ Gia Thân Pháp (còn gọi là Vũ gia môn). Cái tên này là do bạn hữu và các đệ tử của Cụ suy tôn, còn Cụ thì chỉ nói giản dị: “Môn võ của tôi là võ tự vệ, võ chiến đấu, võ hiện đại.” Học trò và những người yêu Vũ Gia Thân Pháp còn lưu giữ mãi một kỷ niệm thật mà gần như huyền thoại về Cụ: Vào những năm đầu thập niên 90, giới võ thuật Tiệp Khắc, một trong những trung tâm Karatedo của Châu Âu, mời Cụ sang thăm. Khi đó Cụ đã 82 tuổi, cân nặng chỉ còn 47kg, lưng còng, sức khoẻ đã giảm sút nhiều. Bất ngờ có 3 võ sư Tiệp đề nghị được giao đấu, trao đổi võ thuật. Cụ vẫn vui vẻ chấp nhận và bằng thân pháp điêu luyện, tinh tế, Cụ đã đánh bại cả 3 võ sư cao lớn có trọng lượng gần gấp đôi . Tên tuổi của Cụ vang danh trên báo chí Tiệp Khắc lúc bấy giờ. Cụ Vũ Bá Quý, sư tổ môn phái Vũ Gia Thân Pháp, một huyền thoại võ thuật Việt Nam vĩnh viễn ra đi năm 1995, để lại cho giới võ thuật Việt Nam biết bao tiếc nuối.

Những môn sinh thuộc thế hệ đầu tiên vào những năm của thập niên 60 cho đến nay, họ đã và đang phát triển đường lối cơ bản dựa trên kho tàng võ học từ người thầy Vũ Bá Quý để lại. Định hình và hợp chuẩn phương pháp sư phạm về lý thuyết cũng như thực hành. Ấn định giáo trình và nội quy trên các võ đường sát thực tế, đầy đủ và chặt chẽ. Trong truyền đạt luôn đặt các tiêu chí là rèn luyện sức khỏe, đạo đức và ý chí làm đầu.

Chưởng môn hiện nay của Vũ Gia môn là võ sư Nguyễn Tiến Mỹ, người học trò tận tuỵ của cụ Quý. Với niềm say mê võ học, ông đã dành tâm sức cả đời mình để phát triển, sáng tạo, nâng cao kỹ thuật của Vũ gia môn lên một tầm cao mới. Võ đường chính đặt tại số nhà 74 Phó Đức Chính, quận Ba Đình, Hà Nội, nơi có bàn thờ và di ảnh cùng một số kỷ vật của cụ Vũ Bá Quý. Ngoài ra Vũ gia môn còn một hệ thống võ đường chi nhánh và cơ sở đào tạo tại đền Voi Phục, một trong Tứ trấn của kinh thành Thăng Long, nơi thờ Linh Lang đại vương, trường tiểu học Nguyễn Tri Phương - 190 Quán Thánh, 484 Âu Cơ, 27 Huỳnh Thúc Kháng (Hà Nội); các cơ sở đào tạo tại Hưng Yên, Hải Dương, Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh; một số quốc gia như CH Sec, CHLB Đức, Canada… Với số lượng liên tục trên dưới 600 môn sinh.

Đặc điểm môn phái

Thân pháp

Tính hoạt động của thân pháp trong Vũ gia thân pháp được linh hoạt theo nguyên tắc dồn phá, ép khoá, xoay và lật. Dựa theo nguyên tắc con quay, dẫn và hoá giải lực theo theo chiều thuận của đòn xoay và chạm lật. Đồng thời, thân pháp này hoàn thành được là sự kết hợp với bộ pháp cổ truyền Vũ gia (xem mục Bộ pháp).

Phương châm:

  • Nhu mềm mà không yểu, cương chắc mà linh hoạt.
  • Sinh công, phát công và hoá giải (thu công) lấy ý, tâm thân làm trọng.
  • Vai và hông nhất hợp, khai pháp công và thủ xoắn vặn tựa như dây thừng, bật và lật như lò xo.
  • Thi triển chiêu thức không lệ thuộc vào vị trí, khoảng cách, thời gian.
  • Thực hiện đa chiều lực, làm nền cho các đòn thế tay và thủ pháp cơ bản.

Bộ pháp

Bộ pháp, với các kỹ năng thi triển đều tuân thủ và làm nền cho thân pháp. Linh hoạt sử dụng để ứng với sở trường của từng địa phương là vùng đồng bằng hay miền núi. Bộ pháp nhanh nhẹn, sắc bén, lấy thân thủ pháp làm trọng, được thịnh hành ở nơi địa hình ít bằng phẳng như các vùng núi. Còn ở vùng đồng bằng và nơi có địa hình bằng phẳng thì bộ pháp được xem trọng và thực dụng hơn. Sự linh hoạt đó có nằm trong phần mở rộng của các kỹ năng luyện tập.

  • Xoay (Xoay tứ cửa):

Thuộc kỹ pháp dịch chuyển tâm thân theo đường cung tròn, lấy đối thủ làm tâm.

Hoá giải đòn thế đối thủ với phương pháp trượt và chèn. Xoay chân tứ cửa thực hiện tại chỗ kết hợp du đẩy, quăng hoặc xô đối thủ đi xa. Đối với các môn sinh mới tập thì việc xoay chân tứ cửa đồng nghĩa với việc tập tấn pháp căn bản.

  • Lật (Thoái bộ):

Trọng lượng cơ thể trên trụ là chân sau, chân trước nhấn nền tạo ra lực đòn bẩy bật lại phía sau. Động tác này thể hiện kỹ pháp thoái lui tạm thời khi bất ngờ gặp công sát. Kỹ pháp Thoái bộ thành thục giúp bộ pháp luôn vững chắc trong di chuyển.

  • Lướt (Túc càn bất ly địa):

Hình thành từ bộ pháp Vịnh xuân quyền và Hầu quyền. Khi tập luyện đạt chỉ giới cao có thể thoắt ẩn, hiện trước đối thủ.

Mã xiết: hai chân trượt cùng đều lúc bám xiết mặt đất. Ưu điểm: biến tốc đột ngột, cả khối thân hình trượt đều vào đối thủ, giữ nguyên bộ pháp, thủ pháp nên đặc biệt an toàn khi nhập nội, tư thế trung chính, chắc chắn, bộ pháp vững chắc (có thể coi như thế thiên cân trụy đưa toàn bộ trọng tâm vào bẩy đối thủ).

Bộ pháp Vũ gia thân pháp thực tế được hình thành dựa trên những nguyên tắc căn bản của vật lý tự nhiên, là Khởi hình - Khai hình - Hợp hình, và âm dương ngũ hành pháp Thổ-Kim-Thuỷ-Mộc-Hoả. Công việc triển khai lý thuyết hay thực hành trên các võ đường, đã được chứng thực sự hoàn thiện và đạt được thành công. Cơ bản nguồn gốc, sở trường của môn phái luôn tuân thủ nghiêm khắc và nâng cao thường xuyên trong các võ đường.

Thủ pháp

Thủ pháp Vũ gia thân pháp quy tụ hoạt động linh hoạt theo pháp: Khởi lực, khai lực, và hợp lực trong Thoái-Thủ-Công cùng với hệ thống bài Ngũ hình quyền Xà, Long, Hổ, Báo, Hạc, ngũ hình tổng hợp và Đối luyện 108 rút gọn.

Khởi hình, Khai hình và Hợp hình từ trong ý. Khởi lực, Khai lực và Hợp lực từ trong thức. Lấy hình của địch để Khởi hình, lấy lực của địch để Khởi lực. Tâm ý hình xuất phát từ mắt, mắt nhìn đâu thì ý và lực phải đưa đến điểm đó. Tâm ý lực xuất phát từ nền và gót bàn chân, thi triển qua khớp gối, hông, vai và khuỷu tay nhờ sự vận hành của hệ thống cơ gân và khí huyết.

Tính hợp nhất với các nguyên tắc võ căn bản được Vũ gia thân pháp luôn luôn xem trọng, là công lực quyền pháp Tam quyền mà võ sư Vũ Bá Quý đã dày công xây dựng, góp phần phát triển nền võ thuật cổ truyền Việt Nam.

Khí công

Việc tập luyện khí công ở Vũ gia thân pháp được nhìn nhận và quy tập trên nguồn trí tuệ và tài nguyên chung của tự nhiên, xã hội và con người nhất định. Được tuân thủ theo những nguyên tắc khoa y học cổ truyền với những dẫn giải và minh chứng rõ ràng, cụ thể.

Tôn chỉ:

  • Điều tâm nhập tĩnh.
  • Bài trừ những ý niệm và khí hỗn tạp, tăng trưởng và lưu trữ chính khí, duy trì sự yên tĩnh của não bộ.
  • Cân bằng âm dương, giữ gìn sự ổn định, vững chắc bên trong và khả năng thích ứng bên ngoài của cơ thể.
  • Nâng cao sức khoẻ, phòng chống bệnh tật, tăng trí thông minh và kéo dài tuổi thọ.
  • Tôn trọng ý chí, năng lực và tư duy bản thân.

Vũ gia môn hàng năm đều tổ chức nhiều hoạt động truyền thống, giao lưu nhằm bảo tồn những giá trị lịch sử và tạo sự gắn kết giữa các thành viên trong môn phái như: Kỷ niệm ngày thành lập 6/6, giỗ cụ Vũ Bá Quý, dâng hương - biểu diễn võ thuật tại đền Voi Phục, gặp mặt đầu năm, tổng kết cuối năm, báo cáo quý, tháng để thông qua các vấn đề chủ trương, liên hoan trong nội bộ và giao lưu với các võ đường, môn phái khác…

Lực lượng chủ yếu của Vũ gia môn phần lớn là đội ngũ trí thức gồm đủ kỹ sư, bác sĩ, kiến trúc sư, cử nhân các ngành… nhiều người trong số đó đã đạt học vị tiến sĩ, thạc sĩ và nắm giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt tại các cơ quan doanh nghiệp ở Trung ương và địa phương. Bên cạnh đó là một lực lượng hùng hậu những người say mê võ học đã dành tâm huyết rất nhiều năm cho việc nghiên cứu, rèn luyện và quảng bá. Có thể nói, với sự đoàn kết nhất trí trên dưới một lòng của Vũ gia môn, với lực lượng mạnh cả về chất lẫn lượng cũng như việc dựa trên hệ thống tổ chức bài bản, khoa học, tiên tiến, Vũ gia môn sẽ ngày càng phát triển hơn, giúp việc rèn luyện thể chất và tinh thần cho cộng đòng, cho những người tập luyện và góp phần phát dương quảng đại cho nền võ học nước nhà.

Quách Ca

Bài liên quan:

  1. Võ sư Nguyễn Hữu Hiệp – Người góp phần truyền bá võ thuật cổ truyền

Leave a Reply


:5: :9: :12: :1: :23: :13: more »